Chào mừng quý vị đến với website của Thư viện trường Tiểu học Trưng Nhị - phường Phúc Yên - tỉnh Phú Thọ
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Một đưa con đã khôn ngoan

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 14h:42' 30-01-2026
Dung lượng: 885.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 14h:42' 30-01-2026
Dung lượng: 885.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
epub©vctvegroup
09-12-2017
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỘT ĐỨA CON ĐÃ KHÔN NGOAN
Và những tác phẩm mới phát hiện của cố nhà văn Nguyễn Công Hoan viết
cho trẻ em
GIỚI THIỆU
ừ thuở văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ còn chập chững đi những
bước đầu tiên, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã xuất hiện. Sự có mặt
của tập truyện ngắn Kiếp hồng nhan xuất bản năm 1923 đã ghi nhận điều
này. Trong trào lưu của dòng văn học hiện thực phê phán, bằng tác phẩm
của mình, ông đã khẳng định vị trí hàng đầu và được xem như một trong
những người đặt nền móng cho nền văn học này bằng những tác phẩm
xuất sắc nhất. Hơn 50 năm cầm bút, ông đã có dành một khoảng thời gian
để sáng tác cho thiếu nhi. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học
1971) có đoạn ông viết: “Lại một người bạn cũ của tôi là Nguyễn Đức Phong, tức
Thái Phỉ, xuất bản tờ báo nhi đồng lấy tên là Cậu Ấm. Báo Cậu Ấm đăng hai
truyện dài và một truyện ngắn. Một truyện dài là Tấm lòng vàng.” (tr. 181) Xin
đặt câu hỏi: - ngoài tác phẩm đã nêu trên thì một truyện dài và một truyện
ngắn còn lại tên gì? Lâu nay, do thiếu tư liệu nên các nhà nghiên cứu văn
học đã không đề cập đến.
T
Theo tìm hiểu của chúng tôi thì đó là truyện dài Đảng Rổ Bẫy và truyện
ngắn Đồng trinh Gia Long. Trước hết xin đề cập đến tờ báo mà trong hồi ký
của nhà văn Nguyễn Công Hoan có đề cập đến. Tờ báo này từ số 1 đến số 12
(ra ngày 8.5.1935) có tên Cậu Ấm báo con trai. Bắt đầu từ số 13 (ra ngày
15.5.1935) được đổi tên thành báo Cậu Ấm Cô Chiêu. Chủ nhiệm của báo là
ông Nguyễn Đức Phong, tòa xoạn đặt tại 82 Rue du Coton (Phố Hàng Bông
Hà Nội), báo in theo khổ 19x29cm, dày 20 trang. Truyện dài Tấm lòng vàng
được in từ số 1 đến số 13, trước khi chấm dứt có giới thiệu thêm: “Tấm lòng
vàng đã đặt ông Nguyễn Công Hoan vào vị trí số 1 nhà viết truyện cho trẻ em có
biệt tài, muốn biết ông Hoan hơn nữa thì đón xem Đảng Rổ Bẫy”. Qua số báo
sau, tức số 14 (ra ngày 22.5.1935) bắt đầu in Đảng Rổ Bẫy và kết thúc vào số
30 (ra ngày 11.9.1935). Còn truyện ngắn Đồng trinh Gia Long thì in trên báo
số 6 (ra ngay 27.3.1935).
Do truyện dài Đảng Rổ Bẫy chưa được in thành sách nên hầu như các
nhà nghiên cứu không biết đến cũng là điều dễ hiểu. Từ sự phát hiện này,
chúng tôi có viết thư báo tin cho nhà văn Lê Minh con gái của nhà văn
Nguyễn Công Hoan. Và chúng tôi thật sự vui mừng khi trong thư phúc đáp,
bà Lê Minh cho biết cũng mới tìm được hai tác phẩm của bố. Đó là vở kịch
Tấm lòng vàng gồm 5 hồi, 3 cảnh do chính nhà văn chuyển thể từ truyện
dài cùng tên và truyện vừa Một đứa con đã khôn ngoan. Hai tác phẩm này
thuộc tủ sách Truyền Bá của NXB Tân Dân in vào năm 1942. Có được hai
tác phẩm này là do Bibliothèque Paris tặng cho Thư viện quốc gia - Bộ Văn
Hóa - Thông tin, và nơi đây đã cho bà Lê Minh chụp lại từ microfim. Từ
những sự phát hiện này, chúng ta đã biết thêm một biệt tài của nhà văn
bậc thày Nguyễn Công Hoan khi viết cho trẻ em. Ở đó sự giáo dục, hướng
thiện đã được lồng vào cốt truyện ly kỳ, gây cấn để hấp dẫn người đọc, chứ
không chỉ là những lời giáo huấn khô khan. Và điều đáng quý hơn nữa là
những vấn đề mà nhà văn đặt ra thì ở thời điểm này nó vẫn còn mang ý
nghĩa thời sự.
Trong truyện Một đứa con đã khôn ngoan, nhà văn giáo dục cho trẻ em
đức tính yêu lấy tiếng Việt. “Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy
tiếng ta, vì tiếng ta tức là tinh thần nước ta” (tr.12). Cậu bé Chỉ trong truyện
này chỉ mê tiếng Pháp và cho rằng tiếng Việt không đủ để diễn tả hết mọi
suy nghĩ và sự vật. Ngay cả lúc viết thư cho bạn thì cậu cũng phải dùng
chêm tiếng Pháp. Cậu (bố) của cậu bé Chỉ không đồng ý và phân tích cho
cậu rằng: “Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó
thiếu ở ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ vật cũ thì tiếng nước ta
vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu tiếng: kỵ, cụ,
ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, chú, bác, cậu, mợ, dì, cô, thím, âu yếm,
thân, hiếu, đễ, từ và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại nói như cách mang đồ đạc, ta
có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bẽ, tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng
một nghĩa riêng” (tr.13) và “Cậu dám đánh cuộc với các ông cử, ông nghè Tây
dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng “lôi thôi” của ta đấy” (tr.13). Dù được phân
tích thấu đáo như thế, nhưng cậu bé Chỉ vẫn không tin. Và cậu chỉ thật sự
tin khi mợ (mẹ) của cậu bị ốm và nhờ cậu đọc giùm tiểu thuyết tiếng Việt.
Cậu bất ngờ là không ngờ nó lại hay đến thế! “Truyện Tây cũng đến thế là
cùng” (tr.29). Chúng tôi bùi ngùi khi đọc lại những lời của người mẹ nói với
con: “Mợ mua sách Quốc văn, được sách hay đã đành, dù phải sách dở mợ cũng
vui lòng. Mình không có tài làm cho Quốc văn hay đẹp hơn lên, thì phải có chút
khuyến khích những người có công quý hóa ấy vậy” (tr.18). Đừng quên rằng,
nhà văn Nguyễn Công Hoan đã tôn vinh tiếng Việt từ thập niên 40 - lúc
mà tiếng Pháp còn ngự trị trong mối quan hệ xã hội. Ngay lúc tiếng Việt
còn bị rẻ rúng thì sự mẫn cảm của nhà văn đã giúp cho ông thấy tương lai
lớn mạnh tất yếu của nó. Bây giờ, mọi người đang đổ xô nhau học ngoại
ngữ như một “mốt” thời thượng, thì truyện Một đứa con đã khôn ngoan đã
nhắc nhở chúng ta rất nhiều điều.
Đã từng đọc truyện dài Tấm lòng vàng thì chắc hẳn, đã đôi lần chúng ta
phải ứa nước mắt trước hoàn cảnh bi đát của cậu học trò tên Đức. Đức có
biệt danh vua zéro vì học dốt. Nào phải vì lười biếng, nhát học đâu, mà vì
gia đình nghèo. Bố mất, mẹ đi lấy chồng khác, cậu phải ở trọ. Không có tiền
trả, bà chủ sai cậu làm quần quật tối ngày, cậu không có thời giờ ôn bài.
Biết chuyện này, một thày giáo đã âm thầm giúp Đức: mỗi tháng bỏ 3 đồng
vào vở để Đức trả tiền trọ. Từ đó, Đức học giỏi hẳn lên. Đây là một câu
chuyện cảm động. Cảm động vì thày thương yêu học trò và sau này, khi
công thành danh toại thì học trò tìm cách giúp đỡ lại thầy trong cơn hoạn
nạn. “Rồi đây, dù các em có làm nên đến gì, mà dầu chảng được đội ơn thầy
nhiều như anh đây, thì lúc nào cũng nhớ ơn thầy, tức là ơn người cha thứ hai
vậy” (tr.30). Đọc lại vở kịch này, chúng tôi tin rằng, bây giờ trong môi trường
sư phạm vẫn còn những tấm lòng cao thượng như thế. Cho dù nó có phai
nhạt đi ít nhiều thì sự có mặt của vở kịch Tấm lòng vàng ở thời điểm này
vẫn là điều cực kỳ đáng quý và cần thiết trong việc giáo dục thê hệ trẻ.
Trong truyện Đảng Rổ Bẫy thì nhà văn viết về một thiếu niên tên là
Tâm. Trên đường trở về nhà, lòng đang nao nức muôn báo tin cho cha mẹ
biết là mình vừa đỗ Sơ học yếu lược. Không ngờ, khi đặt chân đến nhà thì
nghe tin cha bị bắt vì tội ăn cướp! Thế là Tâm lên tận huyện đường để
minh oan cho cha. Lần thứ hai lên gặp quan huyện thì chẳng may Tâm bị
đảng cướp Rổ Bẫy bắt cóc. Sau đó, nhờ trí thông minh và lòng dũng cảm,
Tâm đã khám phá ra tổ chức của đảng cướp này. Phải thừa nhận rằng, câu
chuyện này được nhà văn viết cực kỳ lôi cuốn, đã đọc thì không thể gấp
sách lại nửa chừng.
Được sự đồng ý của gia đình nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977),
XNB Trẻ tái bản lại bốn tác phẩm này. Chúng tôi tin rằng, những tác phẩm
này hoàn toàn phù hợp với lý tưởng giáo dục trẻ em hiện nay.
MỘT ĐỨA CON ĐÃ KHÔN NGOAN
H
ôm nay, tuy là chủ nhật và trời rét hơn mọi ngày, nhưng Chỉ cũng
dậy ngay từ năm giờ.
Anh lấy quyển giấy ráp, cầm ngọn bút chì. Anh đọc đi đọc lại hai dòng
đầu bài, gạch những tiếng quan trọng, rồi nhắm mắt, gục mặt vào bàn tay
để nghĩ.
Xung quanh anh không có một tiếng động.
Bọn người nhà, người quét dọn, ở tận dưới bếp và buồng khách. Cậu mợ
và em Nhật vẫn còn ngủ.
Sự tĩnh mịch giúp anh tìm được rất nhiều ý hay.
Ấy là anh theo phương pháp làm luận của thày giáo vẫn chỉ bảo. Thày
thường khuyên học trò khi gặp bài khó, phải làm lúc buổi sớm, là lúc trí
não còn trong trẻo. Và dậy sớm, trong mình được khoan khoái và tinh thần
sảng khoái, nghĩ gì cũng dễ ra. Thày bảo trước khi làm nên đọc kỹ đầu bài
để nhận những ý chính, nếu cần lấy bút gạch để ghi nhớ, rồi hãy tìm tòi ý
tứ. Rồi lần lượt biên ngay vào giấy. Khi ý đã nhiều thì nên chọn lọc cho đầy
đủ và xếp đặt cho thứ tự. Lúc ấy hãy dàn bài và ráp câu.
Bỗng có hơi thở ấm áp đằng sau cổ. Chỉ ngoảnh lại, thì ra mợ.
Mợ thấy anh chăm chú về công việc, nên đi rón rén đến và yên lặng
đứng âu yếm nhìn.
— Con làm gì thế?
— Con làm rédaction[1] đấy mợ ạ.
Mợ mỉm cười:
— Con cứ quen miệng, nói với mợ cũng chen tiếng tây, mợ hiểu sao
được.
Chỉ bẽn lẽn:
— Con vẫn biết thế, nhưng sao tránh được. Nó thành thói quen rồi.
Lúc ấy cậu cũng đã dậy, cậu run rẩy vì lạnh, hai tay thọc vào hai túi, hỏi.
— Thói quen gì?
Mợ đáp:
— Thói quen là nói chuyện với tôi cứ chen tiếng tây vào.
Cậu gật:
— Thói quen đó rất thông thường của những người biết tiếng Pháp.
Thấy cậu bênh, Chỉ bèn gỡ:
— Nói như thế, nó nhanh hơn bằng câu toàn tiếng ta, cậu nhỉ.
Mợ vuốt tóc anh, dịu dàng giảng:
— Nhưng đó là một thói xấu. Không ai nên mắc phải cả. Hôm nọ mợ
thấy con mắng em Nhật chỉ tại em không hiểu con định nói gì, vì con cũng
chen tiếng tây. Chính mợ cũng không hiểu. Những tiếng tây con vừa nói
với mợ đều có thể thay bằng tiếng ta. Vậy sao con không tập nói chuyện
bằng toàn tiếng ta. Mợ chẳng hạn, và bao nhiêu người không biết tiếng tây,
sao vẫn nói chuyện được với nhau, mà nhanh chóng như thường.
Cậu vò đầu Chỉ, chế nhạo:
— Thế cu cậu đuối lý rồi.
Rồi cậu bảo mợ:
— Thôi đi rửa mặt cho con làm việc, kẻo nó lại bắt đền.
Khi trong buồng yên lặng, Chỉ lại cặm cụi làm việc. Anh mở các sách in,
đọc hết bài này đến bài khác, để tìm ý.
Rồi xếp đặt ý xong, anh mới ráp bài.
Bỗng mợ gọi:
— Chỉ ơi, hãy nghỉ tay «măng giê»[2] đã.
Anh bật cười, vâng một tiếng toan đứng dậy. Nhưng chợt nghĩ ra được
một câu hay, anh vội vàng lại ngồi xuống để viết. Rồi hết câu nọ đến câu
kia, anh đã ráp trọn được đoạn mở bài và đoạn kết cục. Cách làm ấy, anh
cũng theo phương pháp của thày giáo chỉ bảo. Còn đoạn giữa là đoạn
chính, anh định ăn sáng xong mới làm.
Anh đứng dậy, vừa đi vừa bần thần nghĩ ngợi.
Cậu mợ vẫn chờ anh, đương đùa vui vẻ với em Nhật.
Thấy anh đến, mợ nhìn anh và bảo:
— Nào «măng giê», tôi còn phải đi «chợ-trờ-rờ» nữa đây.
Cả nhà lại cười.
Ăn vội vàng vài miếng nữa, Chỉ đứng dậy, lại hấp tấp ngồi vào bàn giấy
làm việc.
Anh thực là một người học trò chăm chỉ
Vì sự siêng năng, nên anh thi gì cũng đỗ ngay. Kỳ Sơ học Yếu lược, Sơ
học Pháp việt, anh đỗ một cách dung dị đã đành, đến cả những kỳ thi khó
khăn vào học lớp nhì năm thứ nhất bậc sơ học và năm thứ nhất bậc Cao
đẳng tiểu học, nhiều thí sinh mà số người lấy vào rất ít, anh cũng đỗ cao.
Anh chỉ phải một tội vô tâm, lúc nói với mợ, hoặc bất cứ ai, dù người
không hiểu tiếng Pháp, cũng cứ chen một vài tiếng tây vào. Cái đó mợ bảo
luôn, nhưng anh cũng không giữ được. Anh quen miệng đi mất rồi. Anh
nhận thấy chẳng những một mình anh, các bạn anh, và bất cứ một ai đã
học tiếng Pháp, đều có tật ấy.
Anh thấy nói như thế dễ dàng hơn là nói toàn tiếng Nam. Vì anh đỡ
phải tìm tiếng cho đúng để diễn đạt tư tưởng. Chữ Pháp anh sẵn có, thì câu
nói có xen một vài tiếng Pháp, anh cũng hiểu như nói toàn tiếng Nam. Vả
anh thấy tiếng ta thiếu rất nhiều để diễn tả cho đủ ý.
Ở trong lớp, anh vốn nổi tiếng giỏi Pháp văn. Kỳ luận Pháp văn nào anh
cũng được thày khen, và bình bài lên cho cả lớp nghe. Anh ước rồi cậu mợ
cho anh sang Pháp, học tập ở các trường cao đẳng mà anh thường được
biết tên.
Cho nên anh luyện Pháp văn một cách rất chăm chú.
Không môn học nào anh mất nhiều công phu bằng môn học ấy.
Anh ngồi làm luận Pháp văn thì không thấy mỏi, thấy nóng ruột một tí
nào. Dù hai giờ, dù ba giờ, dù cả buổi sáng, dù lan sang cả buổi chiều, anh
cũng vẫn chăm chú. Khi một bài được hoàn toàn anh mới vui vẻ và yên
tâm.
Nhưng lần này mới mười rưỡi, anh đã ráp xong bài. Anh chưa đọc lại và
chép ra giấy. Anh muốn thí nghiệm một lối làm việc mới. Là để độ hai ba
giờ sau hãy đọc lại. Và trong thì giờ ấy, anh làm những việc khác cho quên
đi. Như vậy tức là anh làm hai bài trong lúc tinh thần minh mẫn.
Đặt bút xuống bàn, anh mỉm cười nhìn ra ngoài trời trắng đục. Thời tiết
hẹn một tuần mưa dầm lâu dài.
Bỗng vú già đi qua, anh hỏi:
— Gần được cơm chưa, hở vú?
— Độ nửa giờ nữa, chú ạ.
Anh khoan khoái. Anh đương nghĩ không biết dùng thì giờ rỗi để làm gì,
thì sực nghĩ đến bài luận Quốc văn chưa được một chữ.
Anh bèn lấy giấy, mở sách chép đầu bài, rồi chẳng cần ráp, viết lia lịa
trong mười phút, được mười lăm dòng. Anh đánh dấu chấm hết.
«Miễn là có bài nộp khỏi phải phạt.»
Nghĩ vậy, anh nhìn đồng hồ. Chợt nhớ đến bức thư của Hà, người em họ,
nhận đã lâu mà chưa trả lời, anh đọc lại thư, rồi lấy giấy.
Hanoi 13 Février 1942
Cher Hà
Hẳn Hà lấy làm ngạc nhiên vì lần này anh viết cho Hà bằng chữ quốc
ngữ. Không phải anh négliger về français[3] đâu, nhưng vì sáng nay, anh
mới phải làm bài réduction lâu thì giờ quá.
Anh đã gặp Kính petit frère de Tùng[4] rồi. Anh thấy nó giống Tùng
như hai giọt nước.
Anh đã đem câu thứ nhất Hà dặn hỏi, thì nó câm như cá chép. Cho
nên anh không hỏi nó câu deuxième question[5] nữa. Thôi, thế là anh em
nó déclarer vaincus[6] rồi, vậy Hà cũng nên pardonner cho họ.
Vậy thế là tranquille[7] nhé. Không có lửa thì sao có khói nhỉ.
Thôi, anh chúc Hà bonne santé.[8]
Ở đây bình yên. Duy hôm nọ ma mère[9] hơi bị malade[10] bởi
refroidissement[11] nhưng hôm nay đã rétablie[12] rồi.
A bientôt[13]
CHỈ
Chỉ vừa ký tên xong, thì mợ đã đứng cạnh:
— Con tôi chăm quá. Phải nghỉ để giải trí rồi ăn cơm chứ?
— Vâng. Nhưng đây là con viết lettre, à quên viết thư cho Hà.
Mợ gật:
— Ừ mợ cũng toan nhắc con, sợ con quên.
Rồi mợ liếc nhìn vào giấy mỉm cười:
— À, lần này con viết bằng quốc ngữ. Thử đọc mợ xem có thông không
nào.
Chỉ luống cuống, nhìn mợ có ý ngượng nghịu. Anh vội vàng lấy giấy
thấm đặt lên bức thư, rồi đứng dậy trước mặt mợ, để mợ khỏi nhìn thấy
chữ và đọc:
— Hà nội ngày 13 Février 1942. Em Hà, hẳn lấy làm ngạc nhiên vì lần
này anh viết cho Hà bằng chữ quốc ngữ. Không phải nhãng bỏ Pháp văn
đâu, nhưng vì sáng nay, anh mới phải làm bài luận lâu thì giờ quá. Anh đã
gặp Kính, em Tùng rồi. Anh thấy nó giống Tùng như hai giọt nước.
Bỗng mợ rũ ra cười:
— Thế nào, giống Tùng như gì?
Chỉ nhắc lại:
— Như hai giọt nước.
Mợ vẫn cười:
— Con nói giọng gì thế?
Rồi mợ nói:
— Ừ, hai giọt nước thì giống nhau thực, nhưng hình như người ta
không nói thế mà?
— Vâng, người ta chẳng nói ressembler comme deux gouttes d'eau là gì?
— À, thế thì người ta của con khác, người ta của mợ khác. Người ta của
mợ chỉ nói giống nhau như đúc mà thôi. Nhưng thôi cũng được, đọc nốt đi.
Chỉ đọc:
— Anh đã đem câu thứ nhất Hà dặn hỏi, thì nó câm như cá chép.
Bỗng mợ lại rũ ra cười:
— Câm như cá chép. Sao con khéo bịa ra văn chương thế.
— Thưa mợ con đâu dám bịa, người ta nói muet comme une carpe nghĩa
là câm như cá chép.
— À, thế con dịch đúng tiếng tây. Nhưng con có biết ta nói câm như gì
không?
Chỉ đưa mắt nhìn lên trần, chớp mắt để nghĩ ngợi. Một lát, anh lắc đầu:
— Con không biết.
— Người ta bảo câm như thóc, câm như hến. Con viết tiếng ta thì nên
dùng toàn giọng ta. Nếu con viết câm như cá chép, giống nhau như hai giọt
nước, thì ra con viết tiếng ta bằng chữ Pháp. Con dịch chữ Pháp ra tiếng ta.
Như thế không được. Giống nhau như hai giọt nước với giống nhau như
đúc, câm như cá chép với câm như hến hoặc như thóc. Hai lối nói cũng hay
ngang nhau. Vậy ta có lối nói văn vẻ, sao con không dùng.
— Thưa mợ, tại con không biết.
— Con không thể không biết. Con phải biết câu câm như thóc hoặc như
hến trước, rồi con hãy nên biết đến câu câm như cá chép mới phải. Tức là
con phải hiểu câm như con cá chép nghĩa là câm như hến hoặc như thóc,
để khi nói tiếng pháp thì dùng câu trên, mà khi nói tiếng ta thì dùng câu
dưới. Trong thư còn gì nữa, đọc nốt rồi đi ăn cơm.
Chỉ đọc:
— Cho nên anh không hỏi câu thứ hai nữa. Thôi, thế là hai anh em nó...
Chỉ ngắt lại không đọc nữa. Muốn chừng anh đương tìm tiếng ta để
dịch cho lọn hai tiếng déclarer vaincus. May quá, lúc ấy mợ không để ý
nghe lắm, nên anh đọc ngay xuống câu dưới:
— Vậy Hà cũng nên tha thứ cho họ. Vậy thế là yên tâm nhé. Không có
lửa thì sao có khói nhỉ.
Mợ lại gắt:
— Thế nào?
— Không có lửa thì sao có khói nhỉ.
Mợ nghĩ, rồi gật đầu:
— Câu ấy đúng ý đấy, nhưng sao nó ngô nghê thế.
Hẳn lại là một câu tiếng Pháp mà con dịch ra.
— Vâng, đó là một câu phương- ngôn Pháp.
— Vậy thế con có biết ta cũng có câu phương ngôn về ý ấy hay không?
— Thưa có. Thế gian chẳng ít thì nhiều, không dưng ai dễ đặt điều cho ai.
— Sao con không dùng câu này có hơn không?
Chỉ bối rối:
— Con quên.
— Thôi được, đọc nữa đi.
Chỉ nối:
— Thôi, anh chúc Hà mạnh khỏe. Ở đây bình yên. Duy hôm nọ mẹ tôi bị
ốm bởi lạnh, nhưng hôm nay đã khoẻ rồi.
— Thế nào, mẹ tôi bị ốm bởi lạnh à? Mợ không hiểu nói ý ấy thì phải
đặt tiếng tây thế nào, nhưng mợ chắc con lại dịch theo tiếng tây đây. Sao
con không gọi mẹ tôi là mợ anh, hoặc bác, có thân hơn không. Mà bị ốm
bởi lạnh à? Sao con không nói là bác khó ở vì cảm hàn?
Lúc ấy cậu vừa đến. Cậu hỏi:
— Thế nào, ai cảm hàn?
— À , con nó viết cho cháu Hà, nhưng dùng tiếng ta không thông. Tôi
không hiểu nó đặt câu tiếng ta không thông, thì viết tiếng tây thông thế
nào được nhỉ.
Cậu hỏi:
— Đâu, đưa thư cậu đọc xem thế nào mà mợ kêu nào.
Chỉ không thể giấu được nữa. Anh phải đưa thư cho cậu. Cậu đọc xong,
không bình phẩm gì, chỉ nói:
— Thôi, muộn rồi, đi ăn cơm.
Chỉ sung sướng. Cậu đã hiểu cho anh rồi. Anh vui vẻ theo cậu mợ ngồi
vào bàn ăn.
Vú già xới cơm xong, cậu nhìn bát cơm trắng, khói nghi ngút, tỏa một
mùi thơm, bèn hỏi vú già:
— Vú già, nồi cơm hôm nay thổi bởi ai, mà trông có vẻ tốt ăn lắm.
Vú già bưng miệng, quay đi để cười.
Mợ ngớ mặt ra nhìn cậu.
Chỉ thấy cậu nói ngô nghê cũng nhếch mép.
Nhưng cậu nghiêm trang, bảo Chỉ:
— Đấy con xem, con và vú già thì cười cậu, mà mợ thì có ý ngạc nhiên.
Là vì cậu đã nói một câu bằng tiếng An nam, nhưng nó không An nam một
tý nào. Con học tiếng Pháp, con chăm về Pháp văn là phải, nhưng không
nên sao nhãng tiếng ta.
Chỉ không đáp, Cậu tiếp:
— Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy tiếng ta, vì tiếng ta
tức là tinh thần nước ta. Cậu nói nồi cơm thổi bởi ai, trông có vẻ tốt lắm,
thì cũng có thể hiểu được, nhưng người Nam mình không nghe quen.
Mình phải nói tiếng Nam theo giọng Việt Nam mới được.
Chỉ cảm động:
— Tại con học chữ Pháp, nên con hay nghĩ theo giọng Pháp.
— Con nghĩ theo giọng Pháp khi con dùng tiếng Pháp thì rất tốt. Nhưng
khi nói tiếng Nam, mà con cũng nghĩ theo thế, tức là con dịch ở tiếng Pháp.
Vậy con là ông Tây nói tiếng An nam mất rồi.
Cả mợ lẫn Chỉ cùng cười. Rồi Chỉ nói:
— Nhưng con thấy tiếng ta nhiều khi thiếu từ để dùng.
Cậu lắc đầu:
— Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó
thiếu ở những ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ, vật cũ thì
tiếng ta vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu
tiếng: kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, chú, bác, cậu, mợ, dì, cô,
thím, âu yếm, yêu, thân, hiếu, đễ, từ, và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại như
nói cách mang đồ đạc, ta có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bê,
tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng một nghĩa riêng.
Nghe cậu nói một thôi một hồi, Chỉ phì cười. Cậu cũng cười:
— Thế mà tiếng Tây phải chắp vào một tiếng gốc. Vả lại tiếng ta nói rất
văn vẻ. Ví dụ hai tiếng cánh buồm, thì cậu tưởng văn chương đến thế là
bóng bẩy, nhưng ta thì để nói thường. Cậu dám đánh cuộc với các ông cử,
ông nghè tây dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng «lôi thôi» của ta đấy.
Mợ cười:
— Ừ, tiếng lôi thôi mà cắt nghĩa thì nó dài biết nhường nào! Cho nên
muốn giỏi tiếng nước ngoài hãy nên giỏi tiếng nước ta đã.
Cậu gật đầu:
— Bởi vì tiếng nước ta, ta phải trọng và phải yêu trước hết. Nhiều lần
mợ bảo con không nên nói tiếng Pháp xen vào tiếng ta là chí phải. Không
gì ngô nghê hơn là bức thư con vừa viết cho em Hà. Đầu tiên, cậu thấy chữ
Hanoi, cậu đã không bằng lòng rồi, phải viết Hà nội làm hai chữ, đánh dấu
quốc ngữ cho đúng. Bởi vì những cái ấy là của mình. Người ta viết lầm, đọc
sai, mình còn nên uốn nắn lại cho đúng, huống chi mình lại bắt chước sự
sai lầm của người ta.
Mợ tiếp:
— Thật thế bây giờ tôi đọc sách, đọc báo thấy chữ Mỹ Thọ, Thủ đầu một,
Phủ Quốc, Phú lãng Thượng, Phủ Liễn, Chobo, Viétri, Núi Đèo mà tôi đâm bực
mình. Tôi ước gì người ta viết cho đúng để trẻ con đọc đỡ sai.
— Cứ gì trẻ con, cả người lớn nữa.
Nghe từng ấy tiếng, Chỉ hiểu đọc chữ Phú lãng thượng là người đọc lầm
chữ Phủ lạng thương, còn những chữ khác anh cho là mợ bẻ sai. Anh
không dám cãi, nhưng cũng không dám hỏi. Thì Cậu nói ngay:
— Con học sách Địa dư và Sử ký của ta do người Pháp làm, phải nên coi
chừng những chỗ viết sai, hoặc những chữ theo âm Pháp. Ví dụ trong
Trung kỳ có cái đảo nhiều rừng quế, người ta gọi là Hòn Quế, hòn tức là đảo,
thì trên địa đồ đề là Hone Koé, đảo Cái Bầu, trên địa đồ là đề Kébao; cũng
như xem sách người Pháp làm về phong tục xứ mình, mình phải biết chỗ
nào là đúng, chỗ nào là hỏng...
* * *
Tuần lễ ấy, cũng như mọi tuần lễ trước, Chỉ được nhất luận Pháp văn và
phải bét luận Quốc văn.
Nhưng khác mọi khi, Chỉ thấy xấu hổ về điểm kém của bài sau hơn là
sung sướng về điểm hơn của bài trước.
Những tiếng bạn khen là văn sỹ tây không làm anh vui vẻ và hãnh diện
nữa.
Anh đọc lại bài luận Quốc văn của anh, rồi mượn bài của Thấn được
nhất. Anh bật cười, thấy bài mình ngắn ngủi. Hai bài hơn kém nhau mười
điểm, chỉ vì một bài làm kỹ lưỡng, một bài làm dối dá. Chứ những câu bạn
đặt cũng rất thường, không chỗ nào cầu kỳ, không chỗ nào dùng chữ nho,
hoặc điển tích khó hiểu.
«Nếu vậy, muốn hơn điểm, có khó khăn gì.»
Anh quyết rằng nếu để ý làm cẩn thận trong mười lăm phút nữa, thế
nào cũng được từ mười điểm trở lên, nghĩa là hơn hẳn sáu bảy điểm.
Rồi anh nghĩ đến công phu và thì giờ làm luận Pháp văn. Anh phải
dùng công phu và thì giờ gấp mười, có khi hơn thế nhiều, mà kết quả chỉ
hơn anh em độ ba bốn điểm. Vậy từ trước đến nay, sao anh cứ chuộng cái
khó mà bỏ cái dễ.
Chẳng hoá ra dại lắm du.
Nhưng suy xét kỹ, anh thấy anh không dại. Bài thi nào Pháp văn cũng
làm nền tảng. Kém Pháp văn, thì dù môn khác giỏi mười mươi cũng bằng
thừa.
Ở trong lớp, thỉnh thoảng anh có thử nghe thày giáo giảng những đoạn
thơ và văn xuôi. Nhưng anh thấy nó thế nào. Thơ thì khó hiểu, mà văn xuôi
thì rất tầm thường. Cho nên anh chỉ dùng giờ Quốc văn để xem trộm tiểu
thuyết Pháp, hoặc làm tính, hoặc nói chuyện với bạn ngồi cạnh.
* * *
Hôm ấy bắt đầu nghỉ hè. Cậu bảo Chỉ:
— Ba tháng nghỉ, con không phải trả tiền học, vậy cậu cho con mỗi
tháng
09-12-2017
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỘT ĐỨA CON ĐÃ KHÔN NGOAN
Và những tác phẩm mới phát hiện của cố nhà văn Nguyễn Công Hoan viết
cho trẻ em
GIỚI THIỆU
ừ thuở văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ còn chập chững đi những
bước đầu tiên, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã xuất hiện. Sự có mặt
của tập truyện ngắn Kiếp hồng nhan xuất bản năm 1923 đã ghi nhận điều
này. Trong trào lưu của dòng văn học hiện thực phê phán, bằng tác phẩm
của mình, ông đã khẳng định vị trí hàng đầu và được xem như một trong
những người đặt nền móng cho nền văn học này bằng những tác phẩm
xuất sắc nhất. Hơn 50 năm cầm bút, ông đã có dành một khoảng thời gian
để sáng tác cho thiếu nhi. Trong hồi ký Đời viết văn của tôi (NXB Văn Học
1971) có đoạn ông viết: “Lại một người bạn cũ của tôi là Nguyễn Đức Phong, tức
Thái Phỉ, xuất bản tờ báo nhi đồng lấy tên là Cậu Ấm. Báo Cậu Ấm đăng hai
truyện dài và một truyện ngắn. Một truyện dài là Tấm lòng vàng.” (tr. 181) Xin
đặt câu hỏi: - ngoài tác phẩm đã nêu trên thì một truyện dài và một truyện
ngắn còn lại tên gì? Lâu nay, do thiếu tư liệu nên các nhà nghiên cứu văn
học đã không đề cập đến.
T
Theo tìm hiểu của chúng tôi thì đó là truyện dài Đảng Rổ Bẫy và truyện
ngắn Đồng trinh Gia Long. Trước hết xin đề cập đến tờ báo mà trong hồi ký
của nhà văn Nguyễn Công Hoan có đề cập đến. Tờ báo này từ số 1 đến số 12
(ra ngày 8.5.1935) có tên Cậu Ấm báo con trai. Bắt đầu từ số 13 (ra ngày
15.5.1935) được đổi tên thành báo Cậu Ấm Cô Chiêu. Chủ nhiệm của báo là
ông Nguyễn Đức Phong, tòa xoạn đặt tại 82 Rue du Coton (Phố Hàng Bông
Hà Nội), báo in theo khổ 19x29cm, dày 20 trang. Truyện dài Tấm lòng vàng
được in từ số 1 đến số 13, trước khi chấm dứt có giới thiệu thêm: “Tấm lòng
vàng đã đặt ông Nguyễn Công Hoan vào vị trí số 1 nhà viết truyện cho trẻ em có
biệt tài, muốn biết ông Hoan hơn nữa thì đón xem Đảng Rổ Bẫy”. Qua số báo
sau, tức số 14 (ra ngày 22.5.1935) bắt đầu in Đảng Rổ Bẫy và kết thúc vào số
30 (ra ngày 11.9.1935). Còn truyện ngắn Đồng trinh Gia Long thì in trên báo
số 6 (ra ngay 27.3.1935).
Do truyện dài Đảng Rổ Bẫy chưa được in thành sách nên hầu như các
nhà nghiên cứu không biết đến cũng là điều dễ hiểu. Từ sự phát hiện này,
chúng tôi có viết thư báo tin cho nhà văn Lê Minh con gái của nhà văn
Nguyễn Công Hoan. Và chúng tôi thật sự vui mừng khi trong thư phúc đáp,
bà Lê Minh cho biết cũng mới tìm được hai tác phẩm của bố. Đó là vở kịch
Tấm lòng vàng gồm 5 hồi, 3 cảnh do chính nhà văn chuyển thể từ truyện
dài cùng tên và truyện vừa Một đứa con đã khôn ngoan. Hai tác phẩm này
thuộc tủ sách Truyền Bá của NXB Tân Dân in vào năm 1942. Có được hai
tác phẩm này là do Bibliothèque Paris tặng cho Thư viện quốc gia - Bộ Văn
Hóa - Thông tin, và nơi đây đã cho bà Lê Minh chụp lại từ microfim. Từ
những sự phát hiện này, chúng ta đã biết thêm một biệt tài của nhà văn
bậc thày Nguyễn Công Hoan khi viết cho trẻ em. Ở đó sự giáo dục, hướng
thiện đã được lồng vào cốt truyện ly kỳ, gây cấn để hấp dẫn người đọc, chứ
không chỉ là những lời giáo huấn khô khan. Và điều đáng quý hơn nữa là
những vấn đề mà nhà văn đặt ra thì ở thời điểm này nó vẫn còn mang ý
nghĩa thời sự.
Trong truyện Một đứa con đã khôn ngoan, nhà văn giáo dục cho trẻ em
đức tính yêu lấy tiếng Việt. “Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy
tiếng ta, vì tiếng ta tức là tinh thần nước ta” (tr.12). Cậu bé Chỉ trong truyện
này chỉ mê tiếng Pháp và cho rằng tiếng Việt không đủ để diễn tả hết mọi
suy nghĩ và sự vật. Ngay cả lúc viết thư cho bạn thì cậu cũng phải dùng
chêm tiếng Pháp. Cậu (bố) của cậu bé Chỉ không đồng ý và phân tích cho
cậu rằng: “Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó
thiếu ở ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ vật cũ thì tiếng nước ta
vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu tiếng: kỵ, cụ,
ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, chú, bác, cậu, mợ, dì, cô, thím, âu yếm,
thân, hiếu, đễ, từ và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại nói như cách mang đồ đạc, ta
có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bẽ, tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng
một nghĩa riêng” (tr.13) và “Cậu dám đánh cuộc với các ông cử, ông nghè Tây
dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng “lôi thôi” của ta đấy” (tr.13). Dù được phân
tích thấu đáo như thế, nhưng cậu bé Chỉ vẫn không tin. Và cậu chỉ thật sự
tin khi mợ (mẹ) của cậu bị ốm và nhờ cậu đọc giùm tiểu thuyết tiếng Việt.
Cậu bất ngờ là không ngờ nó lại hay đến thế! “Truyện Tây cũng đến thế là
cùng” (tr.29). Chúng tôi bùi ngùi khi đọc lại những lời của người mẹ nói với
con: “Mợ mua sách Quốc văn, được sách hay đã đành, dù phải sách dở mợ cũng
vui lòng. Mình không có tài làm cho Quốc văn hay đẹp hơn lên, thì phải có chút
khuyến khích những người có công quý hóa ấy vậy” (tr.18). Đừng quên rằng,
nhà văn Nguyễn Công Hoan đã tôn vinh tiếng Việt từ thập niên 40 - lúc
mà tiếng Pháp còn ngự trị trong mối quan hệ xã hội. Ngay lúc tiếng Việt
còn bị rẻ rúng thì sự mẫn cảm của nhà văn đã giúp cho ông thấy tương lai
lớn mạnh tất yếu của nó. Bây giờ, mọi người đang đổ xô nhau học ngoại
ngữ như một “mốt” thời thượng, thì truyện Một đứa con đã khôn ngoan đã
nhắc nhở chúng ta rất nhiều điều.
Đã từng đọc truyện dài Tấm lòng vàng thì chắc hẳn, đã đôi lần chúng ta
phải ứa nước mắt trước hoàn cảnh bi đát của cậu học trò tên Đức. Đức có
biệt danh vua zéro vì học dốt. Nào phải vì lười biếng, nhát học đâu, mà vì
gia đình nghèo. Bố mất, mẹ đi lấy chồng khác, cậu phải ở trọ. Không có tiền
trả, bà chủ sai cậu làm quần quật tối ngày, cậu không có thời giờ ôn bài.
Biết chuyện này, một thày giáo đã âm thầm giúp Đức: mỗi tháng bỏ 3 đồng
vào vở để Đức trả tiền trọ. Từ đó, Đức học giỏi hẳn lên. Đây là một câu
chuyện cảm động. Cảm động vì thày thương yêu học trò và sau này, khi
công thành danh toại thì học trò tìm cách giúp đỡ lại thầy trong cơn hoạn
nạn. “Rồi đây, dù các em có làm nên đến gì, mà dầu chảng được đội ơn thầy
nhiều như anh đây, thì lúc nào cũng nhớ ơn thầy, tức là ơn người cha thứ hai
vậy” (tr.30). Đọc lại vở kịch này, chúng tôi tin rằng, bây giờ trong môi trường
sư phạm vẫn còn những tấm lòng cao thượng như thế. Cho dù nó có phai
nhạt đi ít nhiều thì sự có mặt của vở kịch Tấm lòng vàng ở thời điểm này
vẫn là điều cực kỳ đáng quý và cần thiết trong việc giáo dục thê hệ trẻ.
Trong truyện Đảng Rổ Bẫy thì nhà văn viết về một thiếu niên tên là
Tâm. Trên đường trở về nhà, lòng đang nao nức muôn báo tin cho cha mẹ
biết là mình vừa đỗ Sơ học yếu lược. Không ngờ, khi đặt chân đến nhà thì
nghe tin cha bị bắt vì tội ăn cướp! Thế là Tâm lên tận huyện đường để
minh oan cho cha. Lần thứ hai lên gặp quan huyện thì chẳng may Tâm bị
đảng cướp Rổ Bẫy bắt cóc. Sau đó, nhờ trí thông minh và lòng dũng cảm,
Tâm đã khám phá ra tổ chức của đảng cướp này. Phải thừa nhận rằng, câu
chuyện này được nhà văn viết cực kỳ lôi cuốn, đã đọc thì không thể gấp
sách lại nửa chừng.
Được sự đồng ý của gia đình nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977),
XNB Trẻ tái bản lại bốn tác phẩm này. Chúng tôi tin rằng, những tác phẩm
này hoàn toàn phù hợp với lý tưởng giáo dục trẻ em hiện nay.
MỘT ĐỨA CON ĐÃ KHÔN NGOAN
H
ôm nay, tuy là chủ nhật và trời rét hơn mọi ngày, nhưng Chỉ cũng
dậy ngay từ năm giờ.
Anh lấy quyển giấy ráp, cầm ngọn bút chì. Anh đọc đi đọc lại hai dòng
đầu bài, gạch những tiếng quan trọng, rồi nhắm mắt, gục mặt vào bàn tay
để nghĩ.
Xung quanh anh không có một tiếng động.
Bọn người nhà, người quét dọn, ở tận dưới bếp và buồng khách. Cậu mợ
và em Nhật vẫn còn ngủ.
Sự tĩnh mịch giúp anh tìm được rất nhiều ý hay.
Ấy là anh theo phương pháp làm luận của thày giáo vẫn chỉ bảo. Thày
thường khuyên học trò khi gặp bài khó, phải làm lúc buổi sớm, là lúc trí
não còn trong trẻo. Và dậy sớm, trong mình được khoan khoái và tinh thần
sảng khoái, nghĩ gì cũng dễ ra. Thày bảo trước khi làm nên đọc kỹ đầu bài
để nhận những ý chính, nếu cần lấy bút gạch để ghi nhớ, rồi hãy tìm tòi ý
tứ. Rồi lần lượt biên ngay vào giấy. Khi ý đã nhiều thì nên chọn lọc cho đầy
đủ và xếp đặt cho thứ tự. Lúc ấy hãy dàn bài và ráp câu.
Bỗng có hơi thở ấm áp đằng sau cổ. Chỉ ngoảnh lại, thì ra mợ.
Mợ thấy anh chăm chú về công việc, nên đi rón rén đến và yên lặng
đứng âu yếm nhìn.
— Con làm gì thế?
— Con làm rédaction[1] đấy mợ ạ.
Mợ mỉm cười:
— Con cứ quen miệng, nói với mợ cũng chen tiếng tây, mợ hiểu sao
được.
Chỉ bẽn lẽn:
— Con vẫn biết thế, nhưng sao tránh được. Nó thành thói quen rồi.
Lúc ấy cậu cũng đã dậy, cậu run rẩy vì lạnh, hai tay thọc vào hai túi, hỏi.
— Thói quen gì?
Mợ đáp:
— Thói quen là nói chuyện với tôi cứ chen tiếng tây vào.
Cậu gật:
— Thói quen đó rất thông thường của những người biết tiếng Pháp.
Thấy cậu bênh, Chỉ bèn gỡ:
— Nói như thế, nó nhanh hơn bằng câu toàn tiếng ta, cậu nhỉ.
Mợ vuốt tóc anh, dịu dàng giảng:
— Nhưng đó là một thói xấu. Không ai nên mắc phải cả. Hôm nọ mợ
thấy con mắng em Nhật chỉ tại em không hiểu con định nói gì, vì con cũng
chen tiếng tây. Chính mợ cũng không hiểu. Những tiếng tây con vừa nói
với mợ đều có thể thay bằng tiếng ta. Vậy sao con không tập nói chuyện
bằng toàn tiếng ta. Mợ chẳng hạn, và bao nhiêu người không biết tiếng tây,
sao vẫn nói chuyện được với nhau, mà nhanh chóng như thường.
Cậu vò đầu Chỉ, chế nhạo:
— Thế cu cậu đuối lý rồi.
Rồi cậu bảo mợ:
— Thôi đi rửa mặt cho con làm việc, kẻo nó lại bắt đền.
Khi trong buồng yên lặng, Chỉ lại cặm cụi làm việc. Anh mở các sách in,
đọc hết bài này đến bài khác, để tìm ý.
Rồi xếp đặt ý xong, anh mới ráp bài.
Bỗng mợ gọi:
— Chỉ ơi, hãy nghỉ tay «măng giê»[2] đã.
Anh bật cười, vâng một tiếng toan đứng dậy. Nhưng chợt nghĩ ra được
một câu hay, anh vội vàng lại ngồi xuống để viết. Rồi hết câu nọ đến câu
kia, anh đã ráp trọn được đoạn mở bài và đoạn kết cục. Cách làm ấy, anh
cũng theo phương pháp của thày giáo chỉ bảo. Còn đoạn giữa là đoạn
chính, anh định ăn sáng xong mới làm.
Anh đứng dậy, vừa đi vừa bần thần nghĩ ngợi.
Cậu mợ vẫn chờ anh, đương đùa vui vẻ với em Nhật.
Thấy anh đến, mợ nhìn anh và bảo:
— Nào «măng giê», tôi còn phải đi «chợ-trờ-rờ» nữa đây.
Cả nhà lại cười.
Ăn vội vàng vài miếng nữa, Chỉ đứng dậy, lại hấp tấp ngồi vào bàn giấy
làm việc.
Anh thực là một người học trò chăm chỉ
Vì sự siêng năng, nên anh thi gì cũng đỗ ngay. Kỳ Sơ học Yếu lược, Sơ
học Pháp việt, anh đỗ một cách dung dị đã đành, đến cả những kỳ thi khó
khăn vào học lớp nhì năm thứ nhất bậc sơ học và năm thứ nhất bậc Cao
đẳng tiểu học, nhiều thí sinh mà số người lấy vào rất ít, anh cũng đỗ cao.
Anh chỉ phải một tội vô tâm, lúc nói với mợ, hoặc bất cứ ai, dù người
không hiểu tiếng Pháp, cũng cứ chen một vài tiếng tây vào. Cái đó mợ bảo
luôn, nhưng anh cũng không giữ được. Anh quen miệng đi mất rồi. Anh
nhận thấy chẳng những một mình anh, các bạn anh, và bất cứ một ai đã
học tiếng Pháp, đều có tật ấy.
Anh thấy nói như thế dễ dàng hơn là nói toàn tiếng Nam. Vì anh đỡ
phải tìm tiếng cho đúng để diễn đạt tư tưởng. Chữ Pháp anh sẵn có, thì câu
nói có xen một vài tiếng Pháp, anh cũng hiểu như nói toàn tiếng Nam. Vả
anh thấy tiếng ta thiếu rất nhiều để diễn tả cho đủ ý.
Ở trong lớp, anh vốn nổi tiếng giỏi Pháp văn. Kỳ luận Pháp văn nào anh
cũng được thày khen, và bình bài lên cho cả lớp nghe. Anh ước rồi cậu mợ
cho anh sang Pháp, học tập ở các trường cao đẳng mà anh thường được
biết tên.
Cho nên anh luyện Pháp văn một cách rất chăm chú.
Không môn học nào anh mất nhiều công phu bằng môn học ấy.
Anh ngồi làm luận Pháp văn thì không thấy mỏi, thấy nóng ruột một tí
nào. Dù hai giờ, dù ba giờ, dù cả buổi sáng, dù lan sang cả buổi chiều, anh
cũng vẫn chăm chú. Khi một bài được hoàn toàn anh mới vui vẻ và yên
tâm.
Nhưng lần này mới mười rưỡi, anh đã ráp xong bài. Anh chưa đọc lại và
chép ra giấy. Anh muốn thí nghiệm một lối làm việc mới. Là để độ hai ba
giờ sau hãy đọc lại. Và trong thì giờ ấy, anh làm những việc khác cho quên
đi. Như vậy tức là anh làm hai bài trong lúc tinh thần minh mẫn.
Đặt bút xuống bàn, anh mỉm cười nhìn ra ngoài trời trắng đục. Thời tiết
hẹn một tuần mưa dầm lâu dài.
Bỗng vú già đi qua, anh hỏi:
— Gần được cơm chưa, hở vú?
— Độ nửa giờ nữa, chú ạ.
Anh khoan khoái. Anh đương nghĩ không biết dùng thì giờ rỗi để làm gì,
thì sực nghĩ đến bài luận Quốc văn chưa được một chữ.
Anh bèn lấy giấy, mở sách chép đầu bài, rồi chẳng cần ráp, viết lia lịa
trong mười phút, được mười lăm dòng. Anh đánh dấu chấm hết.
«Miễn là có bài nộp khỏi phải phạt.»
Nghĩ vậy, anh nhìn đồng hồ. Chợt nhớ đến bức thư của Hà, người em họ,
nhận đã lâu mà chưa trả lời, anh đọc lại thư, rồi lấy giấy.
Hanoi 13 Février 1942
Cher Hà
Hẳn Hà lấy làm ngạc nhiên vì lần này anh viết cho Hà bằng chữ quốc
ngữ. Không phải anh négliger về français[3] đâu, nhưng vì sáng nay, anh
mới phải làm bài réduction lâu thì giờ quá.
Anh đã gặp Kính petit frère de Tùng[4] rồi. Anh thấy nó giống Tùng
như hai giọt nước.
Anh đã đem câu thứ nhất Hà dặn hỏi, thì nó câm như cá chép. Cho
nên anh không hỏi nó câu deuxième question[5] nữa. Thôi, thế là anh em
nó déclarer vaincus[6] rồi, vậy Hà cũng nên pardonner cho họ.
Vậy thế là tranquille[7] nhé. Không có lửa thì sao có khói nhỉ.
Thôi, anh chúc Hà bonne santé.[8]
Ở đây bình yên. Duy hôm nọ ma mère[9] hơi bị malade[10] bởi
refroidissement[11] nhưng hôm nay đã rétablie[12] rồi.
A bientôt[13]
CHỈ
Chỉ vừa ký tên xong, thì mợ đã đứng cạnh:
— Con tôi chăm quá. Phải nghỉ để giải trí rồi ăn cơm chứ?
— Vâng. Nhưng đây là con viết lettre, à quên viết thư cho Hà.
Mợ gật:
— Ừ mợ cũng toan nhắc con, sợ con quên.
Rồi mợ liếc nhìn vào giấy mỉm cười:
— À, lần này con viết bằng quốc ngữ. Thử đọc mợ xem có thông không
nào.
Chỉ luống cuống, nhìn mợ có ý ngượng nghịu. Anh vội vàng lấy giấy
thấm đặt lên bức thư, rồi đứng dậy trước mặt mợ, để mợ khỏi nhìn thấy
chữ và đọc:
— Hà nội ngày 13 Février 1942. Em Hà, hẳn lấy làm ngạc nhiên vì lần
này anh viết cho Hà bằng chữ quốc ngữ. Không phải nhãng bỏ Pháp văn
đâu, nhưng vì sáng nay, anh mới phải làm bài luận lâu thì giờ quá. Anh đã
gặp Kính, em Tùng rồi. Anh thấy nó giống Tùng như hai giọt nước.
Bỗng mợ rũ ra cười:
— Thế nào, giống Tùng như gì?
Chỉ nhắc lại:
— Như hai giọt nước.
Mợ vẫn cười:
— Con nói giọng gì thế?
Rồi mợ nói:
— Ừ, hai giọt nước thì giống nhau thực, nhưng hình như người ta
không nói thế mà?
— Vâng, người ta chẳng nói ressembler comme deux gouttes d'eau là gì?
— À, thế thì người ta của con khác, người ta của mợ khác. Người ta của
mợ chỉ nói giống nhau như đúc mà thôi. Nhưng thôi cũng được, đọc nốt đi.
Chỉ đọc:
— Anh đã đem câu thứ nhất Hà dặn hỏi, thì nó câm như cá chép.
Bỗng mợ lại rũ ra cười:
— Câm như cá chép. Sao con khéo bịa ra văn chương thế.
— Thưa mợ con đâu dám bịa, người ta nói muet comme une carpe nghĩa
là câm như cá chép.
— À, thế con dịch đúng tiếng tây. Nhưng con có biết ta nói câm như gì
không?
Chỉ đưa mắt nhìn lên trần, chớp mắt để nghĩ ngợi. Một lát, anh lắc đầu:
— Con không biết.
— Người ta bảo câm như thóc, câm như hến. Con viết tiếng ta thì nên
dùng toàn giọng ta. Nếu con viết câm như cá chép, giống nhau như hai giọt
nước, thì ra con viết tiếng ta bằng chữ Pháp. Con dịch chữ Pháp ra tiếng ta.
Như thế không được. Giống nhau như hai giọt nước với giống nhau như
đúc, câm như cá chép với câm như hến hoặc như thóc. Hai lối nói cũng hay
ngang nhau. Vậy ta có lối nói văn vẻ, sao con không dùng.
— Thưa mợ, tại con không biết.
— Con không thể không biết. Con phải biết câu câm như thóc hoặc như
hến trước, rồi con hãy nên biết đến câu câm như cá chép mới phải. Tức là
con phải hiểu câm như con cá chép nghĩa là câm như hến hoặc như thóc,
để khi nói tiếng pháp thì dùng câu trên, mà khi nói tiếng ta thì dùng câu
dưới. Trong thư còn gì nữa, đọc nốt rồi đi ăn cơm.
Chỉ đọc:
— Cho nên anh không hỏi câu thứ hai nữa. Thôi, thế là hai anh em nó...
Chỉ ngắt lại không đọc nữa. Muốn chừng anh đương tìm tiếng ta để
dịch cho lọn hai tiếng déclarer vaincus. May quá, lúc ấy mợ không để ý
nghe lắm, nên anh đọc ngay xuống câu dưới:
— Vậy Hà cũng nên tha thứ cho họ. Vậy thế là yên tâm nhé. Không có
lửa thì sao có khói nhỉ.
Mợ lại gắt:
— Thế nào?
— Không có lửa thì sao có khói nhỉ.
Mợ nghĩ, rồi gật đầu:
— Câu ấy đúng ý đấy, nhưng sao nó ngô nghê thế.
Hẳn lại là một câu tiếng Pháp mà con dịch ra.
— Vâng, đó là một câu phương- ngôn Pháp.
— Vậy thế con có biết ta cũng có câu phương ngôn về ý ấy hay không?
— Thưa có. Thế gian chẳng ít thì nhiều, không dưng ai dễ đặt điều cho ai.
— Sao con không dùng câu này có hơn không?
Chỉ bối rối:
— Con quên.
— Thôi được, đọc nữa đi.
Chỉ nối:
— Thôi, anh chúc Hà mạnh khỏe. Ở đây bình yên. Duy hôm nọ mẹ tôi bị
ốm bởi lạnh, nhưng hôm nay đã khoẻ rồi.
— Thế nào, mẹ tôi bị ốm bởi lạnh à? Mợ không hiểu nói ý ấy thì phải
đặt tiếng tây thế nào, nhưng mợ chắc con lại dịch theo tiếng tây đây. Sao
con không gọi mẹ tôi là mợ anh, hoặc bác, có thân hơn không. Mà bị ốm
bởi lạnh à? Sao con không nói là bác khó ở vì cảm hàn?
Lúc ấy cậu vừa đến. Cậu hỏi:
— Thế nào, ai cảm hàn?
— À , con nó viết cho cháu Hà, nhưng dùng tiếng ta không thông. Tôi
không hiểu nó đặt câu tiếng ta không thông, thì viết tiếng tây thông thế
nào được nhỉ.
Cậu hỏi:
— Đâu, đưa thư cậu đọc xem thế nào mà mợ kêu nào.
Chỉ không thể giấu được nữa. Anh phải đưa thư cho cậu. Cậu đọc xong,
không bình phẩm gì, chỉ nói:
— Thôi, muộn rồi, đi ăn cơm.
Chỉ sung sướng. Cậu đã hiểu cho anh rồi. Anh vui vẻ theo cậu mợ ngồi
vào bàn ăn.
Vú già xới cơm xong, cậu nhìn bát cơm trắng, khói nghi ngút, tỏa một
mùi thơm, bèn hỏi vú già:
— Vú già, nồi cơm hôm nay thổi bởi ai, mà trông có vẻ tốt ăn lắm.
Vú già bưng miệng, quay đi để cười.
Mợ ngớ mặt ra nhìn cậu.
Chỉ thấy cậu nói ngô nghê cũng nhếch mép.
Nhưng cậu nghiêm trang, bảo Chỉ:
— Đấy con xem, con và vú già thì cười cậu, mà mợ thì có ý ngạc nhiên.
Là vì cậu đã nói một câu bằng tiếng An nam, nhưng nó không An nam một
tý nào. Con học tiếng Pháp, con chăm về Pháp văn là phải, nhưng không
nên sao nhãng tiếng ta.
Chỉ không đáp, Cậu tiếp:
— Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy tiếng ta, vì tiếng ta
tức là tinh thần nước ta. Cậu nói nồi cơm thổi bởi ai, trông có vẻ tốt lắm,
thì cũng có thể hiểu được, nhưng người Nam mình không nghe quen.
Mình phải nói tiếng Nam theo giọng Việt Nam mới được.
Chỉ cảm động:
— Tại con học chữ Pháp, nên con hay nghĩ theo giọng Pháp.
— Con nghĩ theo giọng Pháp khi con dùng tiếng Pháp thì rất tốt. Nhưng
khi nói tiếng Nam, mà con cũng nghĩ theo thế, tức là con dịch ở tiếng Pháp.
Vậy con là ông Tây nói tiếng An nam mất rồi.
Cả mợ lẫn Chỉ cùng cười. Rồi Chỉ nói:
— Nhưng con thấy tiếng ta nhiều khi thiếu từ để dùng.
Cậu lắc đầu:
— Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó
thiếu ở những ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ, vật cũ thì
tiếng ta vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu
tiếng: kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, chú, bác, cậu, mợ, dì, cô,
thím, âu yếm, yêu, thân, hiếu, đễ, từ, và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại như
nói cách mang đồ đạc, ta có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bê,
tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng một nghĩa riêng.
Nghe cậu nói một thôi một hồi, Chỉ phì cười. Cậu cũng cười:
— Thế mà tiếng Tây phải chắp vào một tiếng gốc. Vả lại tiếng ta nói rất
văn vẻ. Ví dụ hai tiếng cánh buồm, thì cậu tưởng văn chương đến thế là
bóng bẩy, nhưng ta thì để nói thường. Cậu dám đánh cuộc với các ông cử,
ông nghè tây dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng «lôi thôi» của ta đấy.
Mợ cười:
— Ừ, tiếng lôi thôi mà cắt nghĩa thì nó dài biết nhường nào! Cho nên
muốn giỏi tiếng nước ngoài hãy nên giỏi tiếng nước ta đã.
Cậu gật đầu:
— Bởi vì tiếng nước ta, ta phải trọng và phải yêu trước hết. Nhiều lần
mợ bảo con không nên nói tiếng Pháp xen vào tiếng ta là chí phải. Không
gì ngô nghê hơn là bức thư con vừa viết cho em Hà. Đầu tiên, cậu thấy chữ
Hanoi, cậu đã không bằng lòng rồi, phải viết Hà nội làm hai chữ, đánh dấu
quốc ngữ cho đúng. Bởi vì những cái ấy là của mình. Người ta viết lầm, đọc
sai, mình còn nên uốn nắn lại cho đúng, huống chi mình lại bắt chước sự
sai lầm của người ta.
Mợ tiếp:
— Thật thế bây giờ tôi đọc sách, đọc báo thấy chữ Mỹ Thọ, Thủ đầu một,
Phủ Quốc, Phú lãng Thượng, Phủ Liễn, Chobo, Viétri, Núi Đèo mà tôi đâm bực
mình. Tôi ước gì người ta viết cho đúng để trẻ con đọc đỡ sai.
— Cứ gì trẻ con, cả người lớn nữa.
Nghe từng ấy tiếng, Chỉ hiểu đọc chữ Phú lãng thượng là người đọc lầm
chữ Phủ lạng thương, còn những chữ khác anh cho là mợ bẻ sai. Anh
không dám cãi, nhưng cũng không dám hỏi. Thì Cậu nói ngay:
— Con học sách Địa dư và Sử ký của ta do người Pháp làm, phải nên coi
chừng những chỗ viết sai, hoặc những chữ theo âm Pháp. Ví dụ trong
Trung kỳ có cái đảo nhiều rừng quế, người ta gọi là Hòn Quế, hòn tức là đảo,
thì trên địa đồ đề là Hone Koé, đảo Cái Bầu, trên địa đồ là đề Kébao; cũng
như xem sách người Pháp làm về phong tục xứ mình, mình phải biết chỗ
nào là đúng, chỗ nào là hỏng...
* * *
Tuần lễ ấy, cũng như mọi tuần lễ trước, Chỉ được nhất luận Pháp văn và
phải bét luận Quốc văn.
Nhưng khác mọi khi, Chỉ thấy xấu hổ về điểm kém của bài sau hơn là
sung sướng về điểm hơn của bài trước.
Những tiếng bạn khen là văn sỹ tây không làm anh vui vẻ và hãnh diện
nữa.
Anh đọc lại bài luận Quốc văn của anh, rồi mượn bài của Thấn được
nhất. Anh bật cười, thấy bài mình ngắn ngủi. Hai bài hơn kém nhau mười
điểm, chỉ vì một bài làm kỹ lưỡng, một bài làm dối dá. Chứ những câu bạn
đặt cũng rất thường, không chỗ nào cầu kỳ, không chỗ nào dùng chữ nho,
hoặc điển tích khó hiểu.
«Nếu vậy, muốn hơn điểm, có khó khăn gì.»
Anh quyết rằng nếu để ý làm cẩn thận trong mười lăm phút nữa, thế
nào cũng được từ mười điểm trở lên, nghĩa là hơn hẳn sáu bảy điểm.
Rồi anh nghĩ đến công phu và thì giờ làm luận Pháp văn. Anh phải
dùng công phu và thì giờ gấp mười, có khi hơn thế nhiều, mà kết quả chỉ
hơn anh em độ ba bốn điểm. Vậy từ trước đến nay, sao anh cứ chuộng cái
khó mà bỏ cái dễ.
Chẳng hoá ra dại lắm du.
Nhưng suy xét kỹ, anh thấy anh không dại. Bài thi nào Pháp văn cũng
làm nền tảng. Kém Pháp văn, thì dù môn khác giỏi mười mươi cũng bằng
thừa.
Ở trong lớp, thỉnh thoảng anh có thử nghe thày giáo giảng những đoạn
thơ và văn xuôi. Nhưng anh thấy nó thế nào. Thơ thì khó hiểu, mà văn xuôi
thì rất tầm thường. Cho nên anh chỉ dùng giờ Quốc văn để xem trộm tiểu
thuyết Pháp, hoặc làm tính, hoặc nói chuyện với bạn ngồi cạnh.
* * *
Hôm ấy bắt đầu nghỉ hè. Cậu bảo Chỉ:
— Ba tháng nghỉ, con không phải trả tiền học, vậy cậu cho con mỗi
tháng
 






Các ý kiến mới nhất